Tin tức - Sự kiện
 
    Thời khóa biểu
 
    Thông báo
 
    Lịch thi
 
    Tốt nghiệp
 
    Điểm thi
 
    Danh sách
 
    Biểu mẫu
 
    Góc học tập
 
Liên kết website
 
Hotline: 01276 559 559
Mr.Hà vinaciweb
Mr.Hà vinaciweb
Mr.Hà vinaciweb
Thư viện ảnh
Thống kê truy cập
Tin tức  

CHUYÊN ĐỀ HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH


Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, vị lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam - một chiến sĩ xuất sắc, một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc. Ở chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức đã đạt tới một sự thống nhất chặt chẽ giữa nói và làm, giữa công và tư, giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường. Đó là sự hoà quyện nhuần nhuyễn, của sự chắt lọc tinh tuý. Bởi vậy, đạo đức Hồ Chí Minh đã trở thành biểu tượng của đạo đức - văn minh của nhân loại.

Sự vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ trên bình diện tư tưởng, trong lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng, mà còn thể hiện bởi chính tấm gương đạo đức sáng ngời của Người. Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức đã đạt tới sự thống nhất chặt chẽ giữa nói với làm, giữa lý luận với thực tiễn, suy nghĩ với hành động, việc công với đời tư, giữa đạo đức cách mạng với đạo đức đời thường. Vì thế, Người đã trở thành biểu tượng, là tấm gương sáng ngời về đạo đức, không chỉ của dân tộc Việt Nam, mà còn của cả nhân loại tiến bộ trên thế giới.

1. Tấm gương trọn đời phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

Đó là đạo đức của người chiến sĩ suốt đời đấu tranh, dâng hiến cả cuộc đời và sự nghiệp của mình cho lý tưởng và mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Do đó, đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức cách mạng, đạo đức hành động vì độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

 Đứng trước cảnh nước mất nhà tan, nhân dân bị lầm than đô hộ, từ thủa thiếu thời, Người đã chọn cho mình con đường suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.Trên con đường cách mạng đó, Người đã không quản khó khăn hiểm nguy luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Đây chính là quy luật phát triển của lịch sử Việt Nam. Với hệ giá trị mục tiêu và phương thức thực hiện mục tiêu đó, Hồ Chí Minh đã đưa cách mạng Việt Nam đi vào quỹ đạo cách mạng của thời đại và sự phát triển của dân tộc Việt Nam hợp với trào lưu, xu thế của thời đại.

Ở cương vị Chủ tịch nước, khi trả lời một nhà báo nước ngoài về điều quan tâm lớn nhất của mình, Bác nói: độc lập cho Tổ quốc, tự do cho dân tộc và hạnh phúc cho đồng bào. Với Hồ Chí Minh điều ham muốn ham muốn đến tột bậc là nước nhà được độc lập, nhân dân có tự do, có cơm ăn, áo mặc, được học hành. Một chân lý Người đã đưa ra trong thế kỷ XX: Không có gì quý hơn độc lập tự do. Theo Bác, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc là hệ giá trị chủ đạo của mục tiêu Giải phóng và Phát triển.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả dân tộc, đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của nhân dân Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Người là bản anh hùng ca về chủ nghĩa yêu nước, về tinh thần tận tụy, hy sinh, phấn đấu quên mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

2. Đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương của ý chí và nghị lực, tinh thần to lớn, vượt qua mọi thử thách, khó khăn để đạt mục đích.

Trong cuộc sống, mỗi người trong chúng ta ai cũng chọn cho mình một con đường đi riêng, một mục đích riêng để đạt tới. Trên con đường ấy, chắc hẳn không chỉ là những thảm đỏ trải đầy hoa hồng mà còn có rất nhiều chướng ngại phải vượt qua. Theo lẽ tự nhiên, ai cũng muốn chọn con đường bằng phẳng, ít chông gai nhất! Thế nhưng, đã có một con người Việt Nam vĩ đại đã chọn con đường khó khăn, gian khổ nhất để tìm ra con đường giải phóng dân tộc. Đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu

Ở Bác, ý chí và nghị lực thể hiện trước hết ở khả năng tự xác định mục đính cho hành động và quyết định hướng hoạt động của mình, là tự vạch ra con đường đi cho riêng mình Khi còn rất nhỏ Nguyễn Tất Thành là cậu bé có tố chất thông minh, ham học hỏi, thích đọc sách, nghe kể chuyện, ham hiểu biết về những điều mới lạ. Những ngày tháng theo cha trở lại quê nội, sau khi mẹ và em mất ở Huế, Nguyễn Tất Thành được cha gửi đến học chữ Hán với các thầy giáo có tư tưởng yêu nước tiến bộ như thầy Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý và sau là thầy Trần Thân. Những tâm tư phản kháng chế độ thực dân phong kiến của các Thầy lớn dần, thấm sâu và ảnh hưởng đến tư tưởng yêu nước thương dân của Bác. Qua những buổi bàn luận thời cuộc giữa các thầy với các sĩ phu yêu nước, Nguyễn Tất Thành dần hiểu được thời cuộc và sự day dứt của các bậc cha chú trước cảnh nước mất nhà tan. thấm thía và đau xót trước thân phận của người dân mất nước và băn khoăn trước các cuộc nổi dậy của nhân dân nhưng bất thành và câu hỏi “làm sao để cứu nước “đã sớm hình thành trong tâm trí của Người. học lớp dự bị ở Trường tiểu học Pháp bản xứ ở thành phố Vinh, Nguyễn Tất Thành lần đầu tiên được tiếp xúc với khẩu hiệu Tự do, Bình đẳng, Bác ái, nhưng ba từ đó không hề tồn tại ở Việt Nam. Từ đó, Bác muốn tìm hiểu nền văn minh Pháp và những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy. Điều đó, hơn mười năm sau khi trả lời phỏng vấn một nhà báo Nga rằng: “Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ tự do, bình đẳng và bác ái… và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm hiểu xem những gì ẩn giấu những từ ấy”. Thời gian sống ở Kinh đô Huế được học hành và tiếp xúc với nền văn hoá mới, với phong trào Duy Tân, cũng như được tiếp cận với những tư tưởng khai sáng Pháp đã cho Nguyễn Tất Thành nhiều hiểu biết mới và tư duy, tư tưởng mới tiến bộ, cùng với thực tiễn thất bại các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX đã đặt ra trong Người nhiều câu hỏi, tác động đến chí hướng Nguyễn Tất Thành. Từ đó, Bác tự xác định mục đính cho hành động và định hướng hoạt động của mình, để có một quyết định chính xác và táo bạo, tự vạch ra con đường đi là xuất dương tìm đường cứu nước cho dân tộc.

Ý chí và nghị lực của Nguyễn Tất Thành còn thể hiện sâu sắc ở sự khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, không lùi bước trước những khó khăn, trở ngại, luôn tự chủ được mình, vượt qua các cám dỗ ở bên ngoài, kiên định lập trường, nhằm mục đính tìm con đường cứu dân tộc Việt Nam thoát khỏi nô lệ lầm than. 11 tuổi Bác đã chịu nỗi đau mất mát quá lớn, mất mẹ và em. Hoàn cảnh khó khăn cùng với nỗi đau và sự mất mát đã tiếp thêm cho Nguyễn Tất Thành một ý chí và nghị lực để vượt qua những thử thách, gian khổ trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước sau này. Những năm tháng của cuộc hành trình 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước là những tháng năm Nguyễn Tất Thành phải đối mặt và vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách. Cuộc hành trình của Người còn ròng rã trải qua khắp các châu lục Á, Âu, Phi, Mĩ. Rất nhiều lần Người phải chịu cảnh tù đày trong ngục thất... Với nghị lực và ý chí sắt đá, Người đã vượt qua tất cả. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hy sinh cả cuộc đời mình để tìm ra chân lý của thời đại, đem lại độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Báo quốc gia Ấn Độ đã từng viết: “Đằng sau cái cốt cách dịu dàng của cụ Hồ là một ý chí sắt thép. Dưới cái bề ngoài giản dị là một tinh thần quật khởi, anh hùng không gì uy hiếp nổi”. Chúng ta biết rằng, khó nhất là thời gian đầu chưa quen lao động chân tay nặng nhọc và môi trường lênh đênh trên sóng biển. Nhiều lúc tưởng chừng như Bác không vượt qua nổi thử thách đầu tiên. Nhưng ý chí và nghị lực kiên cường, càng gian khổ, khó khăn sức chịu đựng của Bác ngày càng rắn rỏi. Công việc quen dần, nỗi vất vả như lùi lại phía sau mỗi hải lý con tàu vượt qua. Những năm tháng đặt chân đến Anh, Pháp, Mỹ, Nguyễn Tất Thành đã phải trải qua những tháng ngày lao động gian khổ với nhiều nghề vất vả khó khăn để kiếm sống và nuôi chí lớn tìm con đường cứu nước. Những ngày ở trên nước Mỹ (1912), Nguyễn Tất Thành làm thuê tại Brúclin (ngoại thành Niu Oóc), còn ở nước Anh (1913), Nguyễn Tất Thành nhận quét tuyết cho một trường học, rồi nghề đốt lò và nhận việc rửa bát thuê, sau đó thợ làm bánh cho khách sạn Cáclơtơn. Những ngày trở lại Pháp (1917) cuộc sống hết sức khó khăn, Nguyễn Tất Thành làm thợ làm ảnh và nhiều nghề khác như : làm đồ giả cổ, vẽ quạt, lọ hoa, chao đèn… tiền kiếm được chẳng được bao nhiêu, cuộc sống vô cùng khó khăn, ăn uống thiếu thốn, tiết kiệm. Những ngày đông giá lạnh, buổi sáng trước khi đi làm, Bác để một viên gạch cạnh bếp lò, chiều về, Bác lấy viên gạch ra, bọc vào tờ báo cũ lót xuống giường nằm cho đỡ lạnh. Ăn uống thiếu thốn cùng với lao động và hoạt động vất vả, sức khoẻ của Nguyễn Tất Thành giảm sút, nhưng nhờ vào ý chí nghị lực rèn luyện Anh đã vượt qua những khó khăn về sức khoẻ để tiếp tục lao vào những hoạt động chính trị. Ngay trong hoàn cảnh lao tù thì Người vẫn tràn đầy ý chí và nghị lực. Người tự nhủ rằng “muốn lên sự nghiệp lớn, tinh thần càng phải cao”.

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, đất nước đang đứng trước những thời cơ và thuận lợi mới, xong vẫn còn đó những khó khăn thách thức mà chúng ta phải vượt qua. Thế hệ trẻ ngày này đặc biệt là đội ngũ học sinh sinh viên cần phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, không ngừng rèn luyện ý chí và nghị lực, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, tinh thần yêu nước, để vượt qua những thách thức, khó khăn, biến những thách thức thành cơ hội phát triển đất nước. Nhằm đóng góp sức lực và trí tuệ của mình đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

3. Đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương tuyệt đối tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh tấm gương tuyệt đối tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, rất coi trọng vai trò của nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng. Người khẳng định: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng", “Nhân dân chính là một lực lượng quan trọng trong đấu tranh cách mạng nhằm giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước”, “Chính nhân dân là người sáng tạo ra mọi giá trị của cải vật chất…Nhân dân một mực tin tưởng vào Đảng, vào cách mạng, họ không sợ khó khăn, gian khổ, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc”.

Người là lãnh tụ gần dân, sống trong lòng dân, đến với dân chân tình cởi mở, không một chút nào xa lạ, quan cách.

Người sống một cuộc sống đạm bạc, đồng cảm với dân, làm tất cả những gì có thể làm được để chăm lo cuộc sống hàng ngày những lợi ích thường nhật của dân.

Người tiếp xúc với mọi tầng lớp nhân dân từ chính khách, trí thức cao cấp tới dân thường để mưu cầu hạnh phúc thiết thân hàng ngày của họ. Người trung thành đến cùng với mục tiêu lý tưởng đã theo đuổi mà thực chất là để cho mọi người dân được sống trong độc lập tự do, có độc lập tự do thì mới có hạnh phúc. Vì thế, Người đảm nhận chức vụ lãnh đạo trong sự tín nhiệm tuyệt đối của dân và coi đó là bổn phận, trách nhiệm công dân của mình, giống như một người lính vâng lệnh quốc dân đồng bào ra mặt trận mà thôi.

Trong suốt cuộc đời hoạt động, trong các bài nói bài viết của Người, một tư tưởng nổi bật trong đó chính là niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh của nhân dân và hết lòng hết sức phụng sự nhân dân. Bác nói “nước phải lấy dân làm gốc”. Do đó, Người yêu cầu cán bộ, đảng viên tin tưởng tuyệt đối vào nhân dân, tin vào trí tuệ, tính chủ động sáng tạo của nhân dân nhằm phát huy sức mạnh của nhân dân; phải gần gũi, chăm lo lợi ích của nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân và phải được thể hiện cụ thể ở việc làm, thái độ, tác phong của từng cán bộ đảng viên. Người khẳng định rằng: “Nước ta là nước dân chủ”, vì vậy: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Suốt cả cuộc đời, Bác luôn thể hiện tinh thần tận tụy, hy sinh, phấn đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Cuộc sống riêng của Người rất giản dị, trong sáng, vì nước, vì dân. Người căm ghét thói cậy quyền, cậy thế, tham ô, quan liêu, lãng phí…vì nó là kẻ thù của nhân dân, của dân tộc, của Chính phủ. Người luôn dạy đội ngũ cán bộ phải là “người đầy tớ trung thành” của nhân dân; luôn gần dân, hiểu tâm lý, yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân; thường xuyên lắng nghe ý kiến của dân, không được lên mặt “quan cách mạng”. Bác nói: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết cuả nhân dân”, “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” hay “gốc có vững thì cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. Khi được bầu cương vị Chủ tịch nước, Người nói: “Tôi tuyệt đối không ham muốn công danh, phú quí chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch vì đồng bào uỷ thác cho tôi cũng phải gắng sức làm cũng như người lính vâng lệnh quốc dân ra trước mặt trận”. Thật xúc động khi đọc những dòng về việc riêng Người viết trong Di chúc: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”.

 4. Đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương của một con người nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu, hết mực vì con người.

 

Xin mở đầu bằng câu hát mà Nhạc sỹ Thuận Yến với long kính trọng đã viết lên bài hát rất hay và tràn đầy cảm xúc về Người:

“Bác Hồ, Người là tình yêu thiết tha nhất trong lòng dân và trong trái tim nhân loại. Cả cuộc đời Bác chăm lo cho hạnh phúc nhân dân. Cả cuộc đời Bác hi sinh cho dân tộc Việt Nam...”. biết bao nhiêu bài nói bài viết, những áng văn thơ, nhưng có lẽ cũng không thể lột tả hết viết về lòng yêu thương con người của Bác. Yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất của Hồ Chí Minh. Người đã dành trọn cuộc đời mình để đấu tranh cho tự do, hạnh phúc, cho áo ấm, cơm no của mọi người nhưng riêng mình thì sống vô cùng giản dị và thanh đạm, bởi vì lẽ sống của Người là lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ. Năm 1946, khi tham dự cuộc vận động “Mùa đông binh sĩ”, Bác đã cởi ngay chiếc áo len đang mặc để gửi cho các chiến sĩ ngoài mặt trận. Bác dành cả tiền lương tháng, tiền nhuận bút, cả quần áo, khăn mặt để tặng cho các chiến sĩ và gia đình thương binh, liệt sĩ. Khi biết tin con trai bác sĩ Vũ Đình Tụng hy sinh, Bác đã gửi đến ông bức thư. Trong thư có đoạn: “Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Thanh niên Việt Nam là con cháu tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi mất một đoạn ruột”. Đọc xong thư Bác, bác sĩ Vũ Đình Tụng đã bàng hoàng xúc động vì không dám nghĩ rằng, giữa lúc Bác Hồ bận trăm nghìn việc quốc gia đại sự, ngay cả họ hàng thân thuộc cũng không có thì giờ thăm hỏi. Thế mà Bác vẫn nghĩ đến ông - một gia đình bé nhỏ đang có tang đau lòng. Bởi lẽ, Bác đã từng nói: mỗi người, mỗi gia đình đều có nỗi đau khổ riêng. Gộp cả những nỗi đau khổ ấy lại thì thành nỗi đau khổ của tôi. Tấm lòng của Bác thật quảng đại, bao la! Có người chiến sĩ từng bảo vệ Bác, kể lại trong niềm xúc động: có cán bộ cứ nghĩ rằng đạo đức cách mạng chỉ để áp dụng trong công tác thôi. Bản thân tôi, được gần Bác, thấy ngay cả lúc ăn cơm, Bác cũng dạy ta thế nào là đạo đức cách mạng. Mỗi khi có món gì ngon là Bác chia sẻ cho người này, người kia cùng ăn. Cầm chén cơm, đôi lúc Bác như tư lự về điều gì đó. Bác yên lòng sao được khi miền Nam phải ăn cơm giữa mưa bom, bão đạn, ở đâu đó, các cụ già, em nhỏ đói rách, lang thang, các chiến sĩ dầm mưa chịu đói rét để kịp giờ hành quân. Ngay cả lúc sắp đi xa, Bác vẫn luôn trăn trở thăm hỏi tình hình chiến sự miền Nam. Bởi miền Nam luôn ở trong trái tim Người.

 

Ở Bác, chỉ có tình yêu thương con người là chưa đủ mà nó phải gắn liền với thái độ tôn trọng con người, biết cách nâng đỡ, giáo dục con người, rộng lượng, khoan dung, đồng thời phải biết nghiêm khắc với bản thân.

Theo Hồ Chí Minh, mỗi người đều có Thiện- Ác, Tốt- Xấu, hay- dở, có nghĩa ai cũng có thể phạm sai lầm. Do đó, khi cán bộ, đảng viên có lỗi, Bao giờ Người cũng mong muốn và tạo điều kiện cho họ sửa chữa lỗi lầm. Tấm lòng nhân ái, hết lòng vì con người của Bác, không chỉ dừng lại đối với nhân dân Việt Nam, mà còn mở rộng ra với nhân dân lao động toàn thế giới. Đúng như nhà thơ Tố hữu đã viết: “Bác ơi tim Bác mênh mông thế, ôm cả nom song mọi kiếp người”

Theo Bác, chữ “nhân” nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bè bạn… nghĩa rộng là đồng bào cả nước; và nghĩa rộng hơn nữa là cả loài người. Khi bôn ba nơi hải ngoại, chứng kiến cảnh bị áp bức bóc lột của công nhân, của nhân dân lao động các nước tư bản chủ nghĩa, của nhân dân các thuộc địa, tình yêu thương con người của Bác mở rộng sang yêu thương những người cùng cảnh ngộ, những người lao động, những người thuộc các dân tộc khác có chung số phận với dân tộc Việt Nam thể hiện qua các bài báo “Người cùng khổ” thấm đượm lòng nhân ái của Bác. Người khẳng định: lòng thương yêu của tôi đối với nhân dân và nhân loại không bao giờ thay đổi. Đối với những người ở bên kia chiến tuyến, những phạm nhân trong lao tù cũng được Bác cảm hóa với tinh thần “đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”. Năm 1946, Bác tới trại giam Hỏa Lò để thăm hỏi, khuyên bảo những phạm nhân ở đây. Bác tặng áo khoác cho họ, ân cần ngồi bên họ, khuyên bảo họ, nghe họ phân trần, và Người đã rưng rưng nước mắt. Trong bức thư gửi cho người Pháp, Bác nói: “Than ôi, trước lòng bác ái thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu. Những dòng máu đó chúng tôi đều quý như nhau” Chính tấm lòng nhân ái bao la, sự khoan dung vô bờ của Bác đã không chỉ cảm hóa những con người lầm lỡ mà cảm hóa cả những người bên kia chiến tuyến của mình. Tất cả những điều đó đã thể hiện một nhân cách lớn: nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu, hết mực vì con người. Hồ Chí Minh - Người là vầng thái dương rạng ngời, ấm áp!

5 . Đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, đời riêng trong sáng, nếp sống giản dị và đức khiêm tốn phi thường

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn coi trọng vấn đề xây dựng đạo đức cách mạng, coi đạo đức là cái gốc, cái nền tảng của người cách mạng. Hồ Chí Minh không chỉ bàn một cách sâu sắc, cô đọng, thấm thía về vấn đề đạo đức mà chính bản thân Người; trong suốt cuộc đời, Người đã thực hiện một cách mẫu mực những tư tưởng và khát vọng đạo đức do mình đặt ra.

Người đã khái quát những phẩm chất chung, cơ bản nhất của con người Việt Nam trong thời đại mới là: Trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng. Trong những phẩm chất đó thì phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư được Người đề cập đến nhiều nhất bởi phẩm chất này gắn liền với hoạt động hàng ngày của mỗi người, gắn liền giữa lời nói và việc làm, giữa suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân trong việc công cũng như trong đời tư, trong sinh hoạt cũng như trong công tác.

Tháng 6 năm 1949, để tiếp tục răn dạy cán bộ về đạo đức, Bác viết tác phẩm: “Cần, kiệm, liêm, chính”. Bác coi bốn đức tính “cần, kiệm, liêm, chính” là những đức tính của người cán bộ cách mạng, như trời có bốn mùa, đất có bốn phương. Bác viết:

“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.

Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

Thiếu một mùa thì không thành trời.

Thiếu một phương thì không thành đất.

Thiếu một đức thì không thành người”.

Trong các bài trên báo Cứu Quốc, Bác đã giải thích rõ:

Cần: Tức là lao động cần cù, siêng năng, thậm chí cố gắng, dẻo dai; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng. Cần còn là làm việc một cách thông minh, sáng tạo, có kế hoạch, khoa học. Theo Bác, con người có đức cần thì việc gì, dù khó khăn đến mấy, cũng làm được. Đúng như câu tục ngữ kiến tha lâu cũng đầy tổ, nước chảy mãi đá cũng mòn. Bác lưu ý, kẻ địch của chữ cần là lười biếng. Bác cho rằng nếu có một người, một địa phương hoặc một ngành mà lười biếng thì khác nào toàn chuyến xe đang chạy, mà có một bánh trật ra ngoài đường ray. Họ sẽ làm chậm trễ cả một chuyến xe. Vì vậy, người lười biếng có tội với đồng bào, với Tổ quốc.

Kiệm: Là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tiền của dân, của nước, của bản thân; phải tiết kiệm từ cái lớn đến cái nhỏ, không phô trương hình thức, không xa xỉ, hoang phí. Cần và kiệm phải đi đôi với nhau như hai chân của con người. Cần mà không kiệm thì như gió vào nhà trống. như nước đổ vào cái thùng không đáy, làm chừng nào xào chừng ấy, rốt cuộc không lại hoàn không. Kiệm mà không cần thì không tăng thêm và không phát triển được. Bác giải thích, tiết kiệm không phải là bủn xỉn. Khi không đáng tiêu xài thì một hạt gạo, một đồng xu cũng không nên tiêu, nhưng khi có việc cần làm lợi cho dân, cho nước thì hao bao nhiêu của, tốn bao nhiêu công cũng vui lòng, như thế mới là kiệm.

Liêm: Là trong sạch, là luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của công, của dân, không tham địa vị, không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Bác đã nhắc lại một số ý kiến của các bậc hiền triết ngày trước: Khổng Tử nói: “Người mà không liêm thì không bằng súc vật”; Mạnh Tử cho rằng: “Ai cũng tham lợi thì nước sẽ nguy”. Do vậy, Bác yêu cầu mỗi người, nhất là cán bộ lãnh đạo phải thực hiện tốt chữ liêm, Chữ liêm và chữ kiệm phải đi đôi với nhau như chữ kiệm phải đi đôi với chữ cần. Có kiệm thì mới có liêm được, bởi xa xỉ ắt sinh tham lam, không giữ được liêm. Bác cũng chỉ rõ ngược lại với chữ liêm là tham ô, là ăn cắp của công làm của tư, đục khoét nhân dân, tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của nhà nước làm quỹ riêng cho địa phương mình. Tham ô là trộm cướp, là kẻ thù của nhân dân. Muốn liêm thật sự thì phải chống tham ô.

Chính: Là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì là không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà. Nói về chính, Bác viết: “Một người phải cần, kiệm, liêm nhưng còn phải chính mới là người hoàn hảo. Trên quả đất có hàng muôn triệu người sống, số người ấy có thể chia thành hai hạng: Người thiện và người ác. Trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc, song, những công việc ấy có thể chia làm hai thứ: Việc chính và việc tà. Làm việc chính là người thiện. Làm việc tà là người tà.

Cần, kiệm, liêm, là gốc rễ của chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả, mới là hoàn hảo. Một người cần phải cần, kiệm, liêm nhưng còn phải chính mới là người hoàn hảo.

Chí công vô tư, là ham làm những việc ích quốc, lợi dân, không ham địa vị, không màng công danh, vinh hoa phú quý; “phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ (tiên thiên hạ ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc). Thực hành chí công vô tư là nêu cao chủ nghĩa tập thể, nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân chỉ biết đến mình, muốn “mọi người vì mình”. Nó là giặc nội xâm, còn nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm.

Những đức tính đó, Người không chỉ thực hành nêu gương và còn làm hết sức mình, công phu rèn luyện, giáo dục đạo đức cách mạng cho lớp lớp cán bộ, đảng viên, cho quần chúng nhân dân ở mọi tầng lớp, nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính, với phương châm vì lợi ích mười năm trồng cây vì lợi ích trăm năm trồng người

Sự hoàn thiện đạo đức là một bản lĩnh văn hoá dẫn tới nhân cách của con người tự do và làm chủ. Xưa nay, khó khăn lớn nhất vẫn là khó khăn tự vượt qua chính bản thân mình. Do đó chúng ta thấy triết lý “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” sâu xa là vì vậy.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, dù là người phụ bếp đến khi trở thành Chủ tịch nước - Hồ Chí Minh luôn nêu cao lối sống cần kiệm, giản dị, không màng danh vọng, không ham của cải, không ham sự xa hoa, không chuộng những nghi thức sang trọng. Bác luôn dành sự quan tâm đặc biệt tới đời sống của nhân dân. Bác nói: “Người ta ai cũng muốn ăn ngon, mặc đẹp, nhưng muốn phải cho đúng thời, đúng hoàn cảnh. Trong lúc nhân dân ta còn thiếu thốn mà một người nào đó muốn riêng hưởng ăn ngon, mặc đẹp, như vậy là không có đạo đức”.

Trước cảnh dân đói năm 1945, Hồ Chí Minh đã kêu gọi đồng bào cả nước nhường cơm, sẻ áo cho nhau: “Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo. Như vậy, thì những người nghèo sẽ có bữa rau, bữa cháo để chờ mùa lúa năm sau, khỏi đến nỗi chết đói”. Bác đã gương mẫu nhịn ăn vào tối Thứ 7, tự tay bỏ gạo vào hũ cứu đói dân nghèo. Chiếc áo lụa đồng bào tặng, Bác cũng đem bán lấy tiền mua áo ấm tặng cho chiến sỹ trong mùa đông giá rét. Số tiền tiết kiệm ít ỏi là tiền nhuận bút các báo gửi cho Bác, Bác cũng đem mua nước ngọt tặng cho các chiến sỹ trực phòng không trong những ngày hè nóng bức. Bác thường nói: “Nhân dân còn đói khổ, tôi ăn ngon sao được, nhân dân còn rách rưới mình mặc thế này cũng là đầy đủ lắm rồi”

 

Có lần Bác đi thăm Quảng Bình, các đồng chí lãnh đạo thết “một bữa cơm đặc biệt”, có cá thu luộc, rau muống luộc chấm mắm Cảnh Dương, khế, chuối xanh chấm mắm tôm Lý Hoà, canh rau ngót nấu với tôm Nhật Lệ. Trước hết, Bác gắp lên bát cho mấy anh em ngồi gần  mỗi người một khúc cá thu. Bác cũng gắp phần Bác, xong Bác đẩy đĩa cá ra ngoài cho các đồng chí ngồi  ở xa. Việc thật nhỏ, nhưng lại là sự quan tâm vô cùng lớn đối với mọi người. Sự quan tâm của Bác không ai có thể quên được tấm lòng của Bác, ai đã được gặp Bác dù chỉ một lần trong giây lát cũng là một diễm phúc nhất của đời mình.

Một lần Bác mở tiệc chiêu đãi đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Liên Xô sang thăm.Thường sau bữa tiệc, khách được mời thưởng thức chương trình văn nghệ. Lần đó, sau khi thưởng thức chương trình văn nghệ, khi khách đã về hết, các diễn viên mới thu dọn. Đến bậc tam cấp nhà khách Phủ Chủ tịch thì bỗng Bác xuất hiện, Bác nói: “ Lúc nãy, Bác được ăn mà các cháu không được ăn, nên Bác ra thăm lại sợ các cháu tủi. Nhưng ăn ngoại giao ấy mà, không ngon đâu”. Câu nói giản dị của Bác làm các diễn viên xúc động về tình thương, về sự  quan tâm của Bác, mọi người cảm thấy Bác càng gần gũi, càng bình dị lại càng yêu Bác hơn.Sự quan tâm này hơn cả cha mẹ đối với con, ông bà đối với cháu chắt. Và vì điều đó mà không ai có thể quên được tấm lòng của Bác.

Trên báo Anh, ký giả Petghi Đaphơ viết: “ Cụ Hồ xem khinh mọi vinh hoa và quyền cao chức trọng. Cụ sống không phải trong Chủ tịch phủ mà trong một căn nhà nhỏ bằng gỗ. Cụ mặc bộ quần áo ka-ki bạc mầu đi dép lốp cao su. Đây không phải là một hình ảnh nhằm phục vụ mục đích tuyên truyền hay chính trị, Cụ không phải là một con người như vậy”

Những cử chỉ cao đẹp đó không chỉ là tình cảm, tình thương bao la của Bác với đồng bào, chiến sỹ mà còn thể hiện sâu sắc những giá trị đạo đức cách mạng ở Hồ Chí Minh. Sự tiết kiệm, giản dị, thanh liêm được thể hiện đậm nét trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của Bác: chi tiêu, về ăn, về ở, về trang phục

Kết luận

Trong hệ thống các động lực phát triển xã hội, đạo đức là một động lực tinh thần không thể thiếu. Chúng ta đang đấu tranh quyết liệt chống quan liêu tham nhũng như một trọng bệnh, như một quốc nạn để đảm bảo môi trường xã hội - nhân văn lành mạnh cho sự phát triển kinh tế, ổn định chính trị và đồng thuận xã hội.

Tình hình đó đòi hỏi phải chú trọng xây dựng đạo đức xã hội và giáo dục tu dưỡng đạo đức cá nhân. Vào lúc này, thực hành đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, noi theo tấm gương sáng đạo đức Hồ Chí Minh trở nên vô cùng cấp thiết, bức xúc. Đó còn là vấn đề cơ bản, lâu dài dối với sự phát triển, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá ở nước ta.

Trước hết đó là thực hành đạo đức cách mạng trong Đảng, từ cán bộ đảng viên đến các tổ chức đảng. Đó còn là giáo dục và thực hành đạo đức cách mạng trong đội ngũ công chức của Nhà nước. Giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ, cho thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên cũng như giới trí thức, văn nghệ sĩ cũng là một đối tượng xã hội cần đặc biệt quan tâm. Đó là đảm bảo cho đạo đức xã hội và tăng cường tính nhân văn của pháp quyền dân chủ.

Do đó, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là mệnh lệnh từ mỗi trái tim của con người Việt Nam.

 



Tin liên quan
HỆ THỐNG CÁC NỘI DUNG ÔN THI TỐT NGHIỆP MÔN GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ NĂM 2016
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC SINH, SINH VIÊN HIỆN NAY
Thời đại mới, hoàn cảnh mới đòi hỏi chủ nghĩa yêu nước mới - chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh
NỘI DUNG ÔN TỐT NGHIỆP MÔN GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ NĂM 2015